<p>Martha Washington vốn không hề có ý định trở thành “người đầu tiên” trong bất cứ điều gì; bà chỉ muốn sống theo khuôn mẫu của những người phụ nữ mà bà từng biết — làm vợ, làm mẹ, và làm bà chủ đồn điền ở Virginia. Thế nhưng, bà lại trở thành người đầu tiên trong một chuỗi dài những phụ nữ chưa từng mưu cầu vai trò mà chính bà đã mở đầu. Dù thuật ngữ “Đệ nhất phu nhân” (First Lady) phải hơn một thế kỷ sau thời bà phục vụ mới được dùng phổ biến, Martha vẫn cảm nhận rõ sức nặng của trách nhiệm ấy, cùng ánh nhìn của cả quốc gia non trẻ đang dõi theo mình.</p>
<p>Các sử gia luôn tiếc nuối trước quyết định của Martha: ngay trước khi qua đời, bà đã đốt hết thư từ trao đổi với người chồng nổi tiếng của mình. Tuy vậy, Đệ nhất phu nhân này không phải là một nhân vật “bất khả tri” (không thể hiểu được). Cũng như chồng bà, hình ảnh của bà trong ký ức nước Mỹ phần nào đã trở nên “đóng khuôn”, cứng nhắc. Nhưng các tư liệu lịch sử — gồm thư từ bà gửi bạn bè, gia đình, và những người quen biết từ thời sống ở Virginia, rồi đến giai đoạn làm Đệ nhất phu nhân, cũng như những năm cuối đời — cho thấy bà là một con người vững vàng và rất sinh động. Bà có thể thẳng thắn, tinh tường về chính trị, lại am hiểu thời trang và đồ đạc trong nhà — đôi khi tất cả những điều đó xuất hiện ngay trong một bức thư. Những bức chân dung được vẽ khi bà còn sống chỉ hé lộ phần nào khía cạnh “thời trang” ấy. Bà từng đặt may lụa tím óng ánh, cùng đôi giày cao gót thêu chỉ bạc và đính sequin cho ngày cưới, và suốt đời bà vẫn mê giày. Khi làm Đệ nhất phu nhân, bà ăn mặc giản dị hơn đôi chút, nhưng trang phục luôn thuộc loại tốt nhất.</p>
<p>Martha Dandridge Custis và George Washington sinh cách nhau chưa đầy một năm, lần lượt vào 1731 và 1732; cuộc hôn nhân của họ là cuộc hôn nhân thứ hai của bà nhưng là cuộc hôn nhân đầu tiên của ông. Theo lời kể của những người hiểu họ nhất, đó là một mối quan hệ gắn bó đầy yêu thương. Trong vài bức thư còn sót lại, George gọi bà là “Patcy yêu dấu của anh” (dear Patcy), và họ xưng hô với nhau là “Người thương yêu nhất của anh/em” (My Dearest). Mùa hè năm 1775, George ký một bức thư khẩn với lời “trọn vẹn thuộc về em” (Your entire). Họ hạnh phúc nhất khi ở bên nhau tại Mount Vernon, nhưng luôn canh cánh những chuyện đang xảy ra ở quê nhà trong những năm chiến tranh và nhiệm kỳ tổng thống kéo dài — và cả nỗi buồn vì phải xa nhau. Hết lòng vì chồng, Martha dành mọi mùa đông trong thời chiến để ở cùng ông, bất kể ông đóng quân ở đâu trong mùa đó, kể cả tại Valley Forge.</p>
<p>George và Martha Washington là những người Virginia giàu có, thuộc tầng lớp thượng lưu “chính hiệu”. Từ cuộc hôn nhân đầu tiên với Daniel Parke Custis — người lớn tuổi hơn bà nhiều — Martha bước vào cuộc hôn nhân với George cùng hai con và một khối tài sản lớn, trong đó có hơn tám mươi người nô lệ. Hai vợ chồng không có con chung, nhưng họ nuôi dưỡng con của bà. Ở Mount Vernon, họ quản lý một hệ thống đồn điền rộng lớn vận hành nhờ lao động của hàng trăm người nô lệ. Thông qua thừa kế và mua sắm thêm, đến khi George qua đời, bất động sản của ông trải dài hàng chục nghìn mẫu Anh, và còn bao gồm một vài cơ sở công nghiệp nhỏ. Nhưng dĩ nhiên, cuộc đời họ không chỉ gói gọn trong phạm vi Virginia.</p>
<p>Khi kết hôn, Martha hẳn đã biết George được “định hướng” cho đời sống công vụ, điều mà ở Virginia thời thuộc địa vừa là cơ hội vừa là trách nhiệm của giới tinh hoa. Dấu hiệu đầu tiên xuất hiện ngay trước khi họ cưới, khi ông phục vụ như một sĩ quan trong lực lượng dân quân Virginia trong Chiến tranh Bảy Năm. Rồi không lâu sau hôn lễ, George được bầu vào nghị viện thuộc địa Virginia — Viện Burgesses (House of Burgesses) — nơi ông phục vụ cho đến sát thềm Cách mạng Mỹ, trong đó có giai đoạn làm việc chặt chẽ với thống đốc hoàng gia, Lord Dunmore. Cho đến lúc ấy, cuộc sống của Martha trong vai trò vợ ông có lẽ vẫn là một bản lặp quen thuộc của những người phụ nữ trong gia đình và bạn bè xung quanh. Nhưng khi đất nước cần đến tài cầm quân của chồng bà trong Chiến tranh Cách mạng, và sau đó là vai trò lãnh đạo chính trị của ông đối với Hợp chủng quốc Hoa Kỳ mới ra đời, đời sống của Martha đã đổi khác — cũng như đời sống của mọi người xung quanh. Trong bước chuyển từ thuộc địa thành quốc gia, người bạn của họ là sử gia kiêm nhà văn Mercy Otis Warren từng nói: “các sự kiện đã vượt xa trí tưởng tượng [của chúng ta].”</p>
<p>Nhà Washington sống trong ba “dinh thự tổng thống” khác nhau khi thủ đô thay đổi: hai nơi đầu ở New York, rồi nơi thứ ba ở Philadelphia cho đến hết nhiệm kỳ thứ hai của tổng thống vào đầu năm 1797. Những nơi ở này (trước thời Washington, D.C. và trước khi có Nhà Trắng) về sau đều đã bị phá bỏ. Tuy vậy, ta vẫn có thể thấy thoáng qua nỗ lực của gia đình Washington trong việc tạo ra một chuẩn mực mới cho đời sống tổng thống và vai trò của Đệ nhất phu nhân. George Washington tổ chức một buổi tiếp khách trang trọng định kỳ vào chiều thứ Ba dành cho nam giới; Martha thì tổ chức một buổi ít trang trọng hơn vào tối thứ Sáu, danh nghĩa là dành cho phụ nữ nhưng thực tế cả nam lẫn nữ đều tham dự. Họ gọi các buổi gặp này là “levees” — thuật ngữ chỉ những buổi tiếp kiến công chúng mang tính nghi lễ của quân chủ Pháp. Trong các “levees” của nhà Washington, Martha chào khách từ một bục cao; điều này khiến nhiều người ngạc nhiên và có không ít lời chỉ trích (cũng công bằng mà nói, bà khá nhỏ nhắn, chỉ cao khoảng 5 feet — xấp xỉ 1m52). Làm vậy thì “dân chủ” ở chỗ nào?</p>
<p>Nhưng làm sao người ta biết phải làm Đệ nhất phu nhân — hoặc thậm chí làm tổng thống — như thế nào, khi trước đó chưa từng có khái niệm ấy? Vay mượn một vài yếu tố nghi lễ từ hệ thống mà họ quen thuộc nhất, rồi tiết chế lại cho phù hợp với tinh thần cách mạng, dường như là lựa chọn hợp lý. Martha sẽ giữ “địa vị hàng đầu tại Hợp chủng quốc,” và mọi điều bà làm hay nói, bà đi đâu và mặc gì, đều có thể trở thành “chất liệu” cho tranh luận chính trị. Hai vợ chồng Washington đã thận trọng nhưng dứt khoát cùng nhau bước vào giai đoạn “đời sống công chúng” này.</p>
<p>Và cái giá phải trả không hề nhỏ. Dùng chính hình ảnh ẩn dụ mà chồng bà hay nhắc tới, Martha viết rằng bà chỉ mong được ở trong “bóng mát của Mount Vernon, dưới giàn nho và cây vả của chính chúng ta.” Thế nhưng, bà viết thêm, “dẫu vậy tôi cũng không thể trách ông ấy,” vì ông “đã hành động theo quan niệm về bổn phận của mình khi lắng nghe tiếng gọi của đất nước.”</p>
<p>Với Martha, vốn được nuôi dạy để đảm đương vai trò tiếp đãi, việc lo liệu mọi thứ cho các nhà ngoại giao, chính khách, người xin chức, và những người dân hiếu kỳ đến thăm là điều tự nhiên như hơi thở. Bà trang bị cho các dinh thự chính thức đủ loại vật dụng: bộ đồ sứ trang trí hình ảnh tất cả các bang quanh viền đĩa và chữ cái viết tắt tên bà ở giữa, dao nĩa, rượu vang, và cả những thứ đời thường như “cây lau nhà và kẹp cho bàn chải cọ rửa” (mops and Clamps for scouring brushes). Họ cũng cho in sẵn thiệp mời dự tiệc (“Tổng thống Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và bà Washington trân trọng kính mời…”) để điền tên những người may mắn được mời. Martha mô tả cả những cuộc thăm viếng trang trọng lẫn không trang trọng: “thói quen của tôi luôn là nhận những lượt thăm trước, rồi sau đó đáp lễ”; trong đó có “các phu nhân thuộc đoàn ngoại giao… được Bộ trưởng Ngoại giao giới thiệu trong lần thăm đầu tiên.”</p>
<p>Trong sự đổi mới này — vừa kế thừa truyền thống vừa điều chỉnh cho phù hợp — Martha Washington đã làm điều mà trước đó chưa một phụ nữ Mỹ nào từng làm: bà đảm nhận một vai trò quốc gia hoàn toàn mới, và bà dạy cả đất nước cách nhìn nhận hình ảnh một người phụ nữ trong vai trò ấy.</p>
<p>Liệu bà có khơi gợi “phần thiện” trong chồng mình không? Có một khía cạnh mà ta biết chắc bà đã hoàn toàn không làm như vậy. Bà có thái độ tàn nhẫn một cách thản nhiên đối với chế độ nô lệ và những kỳ vọng bà đặt lên người nô lệ. Khi mười bảy người bỏ trốn theo phía Anh — những người khi đó đang hứa hẹn tự do trong thời cách mạng — bà vừa bối rối vừa phẫn nộ. Nhiều thập kỷ sau, khi một nữ hầu của bà bỏ trốn khỏi Philadelphia, bà tức giận và muốn truy tìm để bắt đưa về (nhưng rốt cuộc không bao giờ bắt lại được). Thế còn ông, liệu có tác động đến “phần thiện” của bà không? Có lẽ. Khi George Washington qua đời, ông để lại di chúc rằng đến lúc Martha mất, những người nô lệ thuộc sở hữu của ông sẽ được trả tự do. Nhưng vì những lý do nào đó — có thể do sợ hãi — Martha đã thực hiện điều khoản này chỉ một năm sau khi ông mất, và một năm trước khi bà cũng rời cõi đời để “theo ông về với mộ.”</p>
<p>Martha Washington quả là một “tiền lệ” khó ai theo kịp. Trước khi phụ nữ có thể nắm giữ chức vụ, bà đã phải tạo ra một “chức vụ” bằng cách bước lên trung tâm sân khấu đời sống công chúng Mỹ mà không hề có kịch bản, rồi biến vai trò của mình thành hiện thực bằng thực hành. Khi nhiệm kỳ tổng thống của Washington kết thúc, Abigail Adams – phu nhân Tổng thống thứ 2 của Hoa Kỳ John Adams – viết thư cho người phụ nữ duy nhất từng đảm nhiệm vị trí mà bà sắp nhận, rằng bà sẽ “cố gắng bước theo dấu chân của bà, và nhờ vậy hy vọng tôi sẽ không bị tụt lại quá xa.”</p>
<p class="has-text-align-right"><strong>TS Karin Wulf </strong></p>
<p class="has-text-align-right"><strong>(Giám đốc kiêm Thủ thư Beatrice và Julio Mario Santo Domingo của Thư viện John Carter Brown, đồng thời là Giáo sư Lịch sử tại Đại học Brown)</strong></p>
<p>Đây là bài viết trong khuôn khổ sáng kiến ”In Pursuit” là một dự án của More Perfect – liên minh lưỡng đảng gồm 43 Trung tâm Tổng thống, Quỹ Lưu trữ Quốc gia, Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Hoa Kỳ, Viện Karsh về Dân chủ tại Đại học Virginia, và hơn 100 tổ chức khác cùng nhau hợp tác để bảo vệ và đổi mới nền dân chủ của nước Mỹ.</p>
<p>Dự án được thực hiện vào dịp kỷ niệm 250 năm thành lập Hoa Kỳ, bao gồm một tuyển tập các bài luận được tuyển chọn về các Tổng thống Hoa Kỳ và một số Đệ nhất Phu nhân tiêu biểu. Các tác giả đóng góp – bao gồm ba cựu Tổng thống, ba cựu Đệ nhất Phu nhân, Chánh án Tòa án Tối cao đương nhiệm và bảy người đoạt giải Pulitzer – sẽ suy ngẫm về mỗi nhân vật để đúc kết một bài học quan trọng, tạo nên một “tập hợp tri thức” sống động cho các thế hệ người Mỹ tương lai.</p>
