<p>Trong suốt năm nay, nền kinh tế Hoa Kỳ đã cho thấy sức chống chịu trong bối cảnh chính sách kinh tế có nhiều thay đổi sâu rộng. Xét theo hai mục tiêu trong “nhiệm vụ kép” của Fed, thị trường lao động vẫn ở gần mức việc làm tối đa, và lạm phát—dù vẫn hơi cao—đã giảm đáng kể so với mức đỉnh sau đại dịch. Đồng thời, cán cân rủi ro dường như đang dịch chuyển.</p>
<p>Trong bài phát biểu hôm nay, trước hết tôi sẽ đề cập tới tình hình kinh tế hiện tại và triển vọng chính sách tiền tệ trong ngắn hạn. Sau đó, tôi sẽ chuyển sang kết quả của đợt rà soát công khai lần thứ hai về khuôn khổ chính sách tiền tệ của chúng tôi, được thể hiện trong Tuyên bố về các Mục tiêu Dài hạn và Chiến lược Chính sách Tiền tệ đã được công bố hôm nay.</p>
<p>Điều kiện kinh tế hiện tại và triển vọng ngắn hạn</p>
<p>Khi tôi đứng tại bục này một năm trước, nền kinh tế đang ở một điểm bẻ cong. Lãi suất chính sách của chúng tôi đã ở mức 5,25% – 5,5% (5-1/4 đến 5-1/2%) hơn một năm. Lập trường chính sách thắt chặt đó là phù hợp để giúp kéo lạm phát xuống và thúc đẩy sự cân bằng bền vững giữa tổng cầu và tổng cung. Lạm phát khi đó đã tiến gần hơn nhiều tới mục tiêu của chúng tôi, và thị trường lao động đã “nguội” so với trạng thái trước đây bị quá nóng. Rủi ro lạm phát theo hướng tăng đã giảm bớt. Nhưng tỷ lệ thất nghiệp đã tăng gần 1 điểm phần trăm—một diễn biến về mặt lịch sử hiếm khi xảy ra ngoài thời kỳ suy thoái.¹ Trong ba cuộc họp tiếp theo của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC), chúng tôi đã hiệu chỉnh lại lập trường chính sách, tạo tiền đề để thị trường lao động duy trì trạng thái cân bằng gần việc làm tối đa trong năm qua (hình 1).</p>
<figure class="wp-block-image size-large"><img decoding="async" width="1024" height="578" src="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure1-20250822-1024x578.jpg" alt="powell-figure1-20250822" class="wp-image-21232" srcset="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure1-20250822-1024x578.jpg 1024w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure1-20250822-300x169.jpg 300w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure1-20250822-768x434.jpg 768w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure1-20250822-1536x867.jpg 1536w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure1-20250822-2048x1156.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /></figure>
<p>Năm nay, nền kinh tế đối mặt với những thách thức mới. Thuế quan cao hơn đáng kể giữa các đối tác thương mại của chúng ta đang tái định hình hệ thống thương mại toàn cầu. Chính sách nhập cư chặt chẽ hơn đã dẫn tới sự giảm tốc đột ngột của tăng trưởng lực lượng lao động. Về dài hạn, những thay đổi trong chính sách thuế, chi tiêu và quy định cũng có thể có những hệ quả quan trọng đối với tăng trưởng kinh tế và năng suất. Có rất nhiều bất định về việc các chính sách này cuối cùng sẽ ổn định ở đâu và tác động lâu dài của chúng đối với nền kinh tế sẽ ra sao.</p>
<p>Những thay đổi trong chính sách thương mại và nhập cư đang tác động tới cả phía cầu và phía cung. Trong bối cảnh này, việc phân biệt đâu là diễn biến mang tính chu kỳ và đâu là diễn biến mang tính xu hướng hay cấu trúc trở nên khó khăn. Sự phân biệt này rất quan trọng vì chính sách tiền tệ có thể góp phần ổn định các biến động theo chu kỳ, nhưng ít có khả năng thay đổi các thay đổi mang tính cấu trúc.</p>
<p>Thị trường lao động là một minh họa điển hình. Báo cáo việc làm tháng 7 công bố đầu tháng này cho thấy tăng trưởng việc làm theo bảng lương đã giảm xuống mức trung bình chỉ 35.000 việc/tháng trong ba tháng qua, từ mức 168.000 việc/tháng trong năm 2024 (hình 2).² </p>
<figure class="wp-block-image size-large"><img decoding="async" width="1024" height="578" src="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure2-20250822-1024x578.jpg" alt="powell-figure2-20250822" class="wp-image-21236" srcset="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure2-20250822-1024x578.jpg 1024w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure2-20250822-300x169.jpg 300w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure2-20250822-768x434.jpg 768w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure2-20250822-1536x867.jpg 1536w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure2-20250822-2048x1156.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /></figure>
<p>Sự giảm tốc này lớn hơn nhiều so với đánh giá hồi một tháng trước, khi các số liệu tháng 5 và 6 đã được điều chỉnh giảm đáng kể.³ Tuy nhiên, có vẻ như sự giảm tốc nói trên chưa tạo ra một mức dư địa lớn trong thị trường lao động—một kết cục mà chúng tôi muốn tránh. Tỷ lệ thất nghiệp, dù nhích lên trong tháng 7, hiện ở mức 4,2%—mức thấp theo tiêu chuẩn lịch sử—và nhìn chung ổn định trong năm vừa qua. Các chỉ báo khác về điều kiện thị trường lao động cũng ít thay đổi hoặc chỉ “mềm” đi ở mức độ vừa phải, bao gồm tỷ lệ nghỉ việc, sa thải, tỷ lệ vị trí tuyển dụng trên số người thất nghiệp, và tăng trưởng lương danh nghĩa. Nguồn cung lao động đã mềm đi phù hợp với nhu cầu, làm giảm mạnh “mức tạo việc làm cân bằng” cần thiết để giữ cho tỷ lệ thất nghiệp không đổi. Thật vậy, tăng trưởng lực lượng lao động đã giảm đáng kể trong năm nay khi nhập cư sụt giảm mạnh, và tỷ lệ tham gia lực lượng lao động giảm nhẹ trong vài tháng gần đây.</p>
<p>Tổng thể, dù thị trường lao động có vẻ cân bằng, đây là một dạng cân bằng “lạ”—đến từ việc cả cung và cầu lao động đều chậm lại rõ rệt. Tình huống bất thường này cho thấy rủi ro suy giảm về việc làm đang tăng lên. Và nếu những rủi ro đó xảy ra, chúng có thể diễn ra nhanh chóng dưới dạng sa thải tăng mạnh và tỷ lệ thất nghiệp đi lên.</p>
<p>Đồng thời, tăng trưởng GDP trong nửa đầu năm nay đã chậm lại đáng kể xuống còn 1,2%, xấp xỉ một nửa mức 2,5% của năm 2024 (hình 3).</p>
<figure class="wp-block-image size-large"><img decoding="async" width="1024" height="578" src="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure3-20250822-1024x578.jpg" alt="powell-figure3-20250822" class="wp-image-21237" srcset="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure3-20250822-1024x578.jpg 1024w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure3-20250822-300x169.jpg 300w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure3-20250822-768x434.jpg 768w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure3-20250822-1536x867.jpg 1536w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure3-20250822-2048x1156.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /></figure>
<p>Sự suy giảm tăng trưởng này phần lớn phản ánh tiêu dùng chậm lại. Cũng như thị trường lao động, một phần sự chậm lại của GDP có thể phản ánh tăng trưởng cung hay sản lượng tiềm năng chậm hơn.</p>
<p>Chuyển sang lạm phát: thuế quan cao hơn đã bắt đầu đẩy giá lên ở một số nhóm hàng hóa. Ước tính dựa trên dữ liệu mới nhất cho thấy chỉ số giá PCE tổng thể tăng 2,6% trong 12 tháng kết thúc vào tháng 7. Loại trừ các nhóm dễ biến động là thực phẩm và năng lượng, PCE cơ bản tăng 2,9%, cao hơn mức của một năm trước. Trong PCE cơ bản, giá hàng hóa tăng 1,1% trong 12 tháng qua—một sự dịch chuyển đáng kể so với mức giảm nhẹ trong năm 2024. Ngược lại, lạm phát dịch vụ nhà ở tiếp tục xu hướng đi xuống, còn lạm phát dịch vụ không phải nhà ở vẫn chạy ở mức nhỉnh hơn đôi chút so với mức lịch sử tương thích với lạm phát 2% (hình 4).⁴</p>
<figure class="wp-block-image size-large"><img decoding="async" width="1024" height="578" src="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure4-20250822-1024x578.jpg" alt="powell-figure4-20250822" class="wp-image-21233" srcset="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure4-20250822-1024x578.jpg 1024w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure4-20250822-300x169.jpg 300w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure4-20250822-768x434.jpg 768w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure4-20250822-1536x867.jpg 1536w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure4-20250822-2048x1156.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /></figure>
<p>Tác động của thuế quan lên giá tiêu dùng nay đã thấy rõ. Chúng tôi kỳ vọng những tác động này sẽ tích tụ trong các tháng tới, với độ bất định lớn về thời điểm và quy mô. Câu hỏi quan trọng đối với chính sách tiền tệ là liệu những mức tăng giá này có làm tăng đáng kể rủi ro hình thành một vấn đề lạm phát dai dẳng hay không. Một kịch bản cơ sở hợp lý là các tác động đó sẽ tương đối ngắn hạn—một cú “dịch chuyển một lần” của mặt bằng giá. Dĩ nhiên, “một lần” không có nghĩa là “ngay lập tức”. Sẽ cần thời gian để các mức tăng thuế quan đi qua chuỗi cung ứng và mạng lưới phân phối. Hơn nữa, mức thuế quan vẫn đang biến động, có thể kéo dài quá trình điều chỉnh.</p>
<p>Tuy vậy, cũng có khả năng áp lực tăng giá do thuế quan sẽ kích hoạt một động lực lạm phát bền hơn—một rủi ro cần được đánh giá và quản trị. Một khả năng là người lao động, khi thấy thu nhập thực của mình giảm do giá cao hơn, sẽ đòi và nhận được mức lương cao hơn từ người sử dụng lao động, khởi phát một vòng xoáy lương–giá bất lợi. Xét rằng thị trường lao động hiện không quá thắt chặt và đang đối mặt với rủi ro suy giảm gia tăng, kịch bản này có vẻ không quá khả dĩ.</p>
<p>Khả năng khác là kỳ vọng lạm phát có thể nhích lên, kéo theo lạm phát thực tế. Lạm phát đã trên mục tiêu của chúng tôi hơn bốn năm và vẫn là mối quan tâm nổi bật của hộ gia đình và doanh nghiệp. Tuy nhiên, các thước đo kỳ vọng lạm phát dài hạn—qua cả thị trường và khảo sát—có vẻ vẫn được “neo chặt” và phù hợp với mục tiêu lạm phát dài hạn 2% của chúng tôi.</p>
<p>Dĩ nhiên, chúng ta không thể xem sự ổn định của kỳ vọng lạm phát là điều hiển nhiên. Dù thế nào, chúng tôi sẽ không để một cú tăng mặt bằng giá “một lần” trở thành một vấn đề lạm phát thường trực.</p>
<p>Gộp các mảnh ghép lại, hệ quả đối với chính sách tiền tệ là gì? Trong ngắn hạn, rủi ro đối với lạm phát nghiêng về phía tăng, và rủi ro đối với việc làm nghiêng về phía giảm—một tình huống nhiều thách thức. Khi các mục tiêu của chúng tôi có phần “đối nghịch” như vậy, khuôn khổ của chúng tôi yêu cầu cân bằng cả hai vế của nhiệm vụ kép. Lãi suất chính sách hiện thấp hơn mức “trung hòa” ước tính 100 điểm cơ bản so với một năm trước, và việc tỷ lệ thất nghiệp cùng các thước đo thị trường lao động khác duy trì ổn định cho phép chúng tôi thận trọng khi cân nhắc điều chỉnh lập trường chính sách. Dẫu vậy, với chính sách vẫn trong vùng thắt chặt, triển vọng cơ sở và cán cân rủi ro đang dịch chuyển có thể biện minh cho việc điều chỉnh lập trường.</p>
<p>Chính sách tiền tệ không đi theo một “lộ trình định sẵn”. Các thành viên FOMC sẽ đưa ra quyết định dựa duy nhất trên đánh giá của họ về dữ liệu và hàm ý đối với triển vọng kinh tế cũng như cán cân rủi ro. Chúng tôi sẽ không bao giờ đi chệch khỏi cách tiếp cận đó.</p>
<p><strong>Sự tiến hóa của khuôn khổ chính sách tiền tệ</strong></p>
<p>Chuyển sang chủ đề thứ hai: khuôn khổ chính sách tiền tệ của chúng tôi được xây trên nền tảng bất biến là nhiệm vụ Quốc hội giao phó: thúc đẩy việc làm tối đa và giá cả ổn định vì lợi ích của người dân Hoa Kỳ. Chúng tôi luôn cam kết hoàn thành sứ mệnh theo luật định này, và các điều chỉnh trong khuôn khổ sẽ hỗ trợ sứ mệnh đó qua nhiều trạng thái kinh tế khác nhau. Tuyên bố về các Mục tiêu Dài hạn và Chiến lược Chính sách Tiền tệ—chúng tôi gọi là “tuyên bố đồng thuận”—mô tả cách chúng tôi theo đuổi các mục tiêu thuộc nhiệm vụ kép. Tài liệu này nhằm giúp công chúng hiểu rõ cách chúng tôi suy nghĩ về chính sách tiền tệ—điều quan trọng cho minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời làm cho chính sách tiền tệ hiệu quả hơn.</p>
<p>Những thay đổi chúng tôi thực hiện trong lần rà soát này là một bước tiến tự nhiên, dựa trên hiểu biết ngày càng sâu hơn về nền kinh tế. Chúng tôi tiếp tục xây dựng trên tuyên bố đồng thuận ban đầu được thông qua năm 2012 dưới thời Chủ tịch Ben Bernanke. Tuyên bố sửa đổi hôm nay là kết quả của đợt rà soát công khai lần thứ hai về khuôn khổ của chúng tôi, được tiến hành theo chu kỳ năm năm. Rà soát năm nay bao gồm ba phần: các sự kiện Fed Listens tại các Ngân hàng Dự trữ trên toàn quốc, một hội thảo nghiên cứu trọng điểm, và các thảo luận—tranh luận của nhà hoạch định chính sách, được hỗ trợ bởi phân tích của đội ngũ chuyên môn—tại một loạt cuộc họp FOMC.⁵</p>
<p>Khi tiếp cận lần rà soát năm nay, một mục tiêu then chốt là đảm bảo khuôn khổ phù hợp trong nhiều trạng thái kinh tế rộng. Đồng thời, khuôn khổ cần tiến hóa cùng những thay đổi trong cấu trúc nền kinh tế và hiểu biết của chúng ta về các thay đổi đó. Đại Khủng hoảng đặt ra những thách thức khác với Thời kỳ Lạm phát Cao và Thời kỳ Ổn định Lớn, và chúng lại khác với những thách thức ngày nay.⁶</p>
<p>Ở lần rà soát trước, chúng ta sống trong một “bình thường mới”, đặc trưng bởi việc lãi suất ở gần giới hạn dưới hiệu dụng (ELB), cùng tăng trưởng thấp, lạm phát thấp và đường Phillips rất phẳng—nghĩa là lạm phát ít nhạy với độ “nhàn rỗi” trong nền kinh tế.⁷ Với tôi, một thống kê nêu bật giai đoạn đó là lãi suất chính sách của chúng tôi “mắc kẹt” tại ELB suốt bảy năm dài sau khi Khủng hoảng Tài chính Toàn cầu (GFC) bùng nổ cuối năm 2008. Nhiều người ở đây hẳn nhớ tăng trưởng ì ạch và phục hồi chậm đau đớn của thời kỳ ấy. Khi đó, có vẻ rất có khả năng rằng chỉ với một cú suy giảm nhẹ, lãi suất chính sách sẽ lại chạm ELB nhanh chóng—và có lẽ kéo dài. Lạm phát và kỳ vọng lạm phát có thể giảm trong một nền kinh tế yếu, khiến lãi suất thực tăng khi lãi suất danh nghĩa bị “ghim” gần 0. Lãi suất thực cao hơn sẽ đè nặng lên tăng trưởng việc làm và củng cố áp lực đi xuống lên lạm phát và kỳ vọng lạm phát, kích hoạt một động lực bất lợi.</p>
<p>Những điều kiện kinh tế đưa lãi suất về ELB và thúc đẩy các thay đổi khuôn khổ năm 2020 được cho là bắt nguồn từ các yếu tố toàn cầu dịch chuyển chậm và sẽ kéo dài—và có lẽ đã đúng như vậy, nếu không xảy ra đại dịch.⁸ Tuyên bố đồng thuận 2020 bao gồm một số nội dung nhằm xử lý các rủi ro liên quan đến ELB vốn gia tăng nổi bật trong hai thập kỷ trước đó. Chúng tôi nhấn mạnh tầm quan trọng của việc “neo chặt” kỳ vọng lạm phát dài hạn để hỗ trợ cả mục tiêu ổn định giá cả lẫn việc làm tối đa. Dựa trên một kho tài liệu phong phú về các chiến lược giảm thiểu rủi ro gắn với ELB, chúng tôi đã áp dụng nhắm mục tiêu lạm phát bình quân linh hoạt—một chiến lược “bù đắp” nhằm đảm bảo kỳ vọng lạm phát vẫn được neo chặt ngay cả khi bị ràng buộc ELB.⁹ Cụ thể, chúng tôi nói rằng sau những giai đoạn lạm phát chạy thấp bền bỉ dưới 2%, chính sách phù hợp sẽ có khả năng hướng đến việc đạt lạm phát cao hơn 2% một cách vừa phải trong một khoảng thời gian.</p>
<p>Trên thực tế, thay vì lạm phát thấp và ELB, giai đoạn mở cửa lại sau đại dịch đã mang tới mức lạm phát cao nhất trong 40 năm cho nhiều nền kinh tế trên thế giới. Giống hầu hết các ngân hàng trung ương khác và các nhà phân tích khu vực tư nhân, tới cuối năm 2021 chúng tôi cho rằng lạm phát sẽ nhanh chóng giảm mà không cần thắt chặt mạnh mẽ lập trường chính sách (hình 5).¹⁰ </p>
<figure class="wp-block-image size-large"><img decoding="async" width="1024" height="578" src="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure5-20250822-1024x578.jpg" alt="powell-figure5-20250822" class="wp-image-21234" srcset="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure5-20250822-1024x578.jpg 1024w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure5-20250822-300x169.jpg 300w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure5-20250822-768x434.jpg 768w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure5-20250822-1536x867.jpg 1536w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure5-20250822-2048x1156.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /></figure>
<p>Khi rõ ràng điều đó không xảy ra, chúng tôi phản ứng quyết liệt, nâng lãi suất chính sách 5,25 điểm phần trăm trong 16 tháng. Động thái đó, cùng với quá trình tháo gỡ đứt gãy chuỗi cung ứng do đại dịch, đã góp phần đưa lạm phát tiến gần mục tiêu hơn nhiều mà không kèm theo sự gia tăng đau đớn của thất nghiệp như trong các nỗ lực chống lạm phát cao trước đây.</p>
<p>Các yếu tố của Tuyên bố đồng thuận sửa đổi</p>
<p>Đợt rà soát năm nay xem xét cách các điều kiện kinh tế đã tiến hóa trong 5 năm qua. Trong thời gian này, chúng ta thấy môi trường lạm phát có thể thay đổi rất nhanh trước các cú sốc lớn. Bên cạnh đó, mặt bằng lãi suất hiện cao hơn đáng kể so với giai đoạn giữa GFC và đại dịch. Với lạm phát ở trên mục tiêu, lãi suất chính sách của chúng tôi đang ở vùng thắt chặt—theo quan điểm của tôi là vừa phải. Chúng ta không thể nói chắc lãi suất sẽ “định vị” ở đâu trong dài hạn, nhưng mức trung tính có thể cao hơn thập niên 2010, phản ánh thay đổi trong năng suất, nhân khẩu, chính sách tài khóa và các yếu tố khác chi phối cân bằng giữa tiết kiệm và đầu tư (hình 6). </p>
<figure class="wp-block-image size-large"><img decoding="async" width="1024" height="578" src="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure6-20250822-1024x578.jpg" alt="powell-figure6-20250822" class="wp-image-21235" srcset="https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure6-20250822-1024x578.jpg 1024w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure6-20250822-300x169.jpg 300w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure6-20250822-768x434.jpg 768w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure6-20250822-1536x867.jpg 1536w, https://thanhvo.vn/wp-content/uploads/2025/08/powell-figure6-20250822-2048x1156.jpg 2048w" sizes="(max-width: 1024px) 100vw, 1024px" /></figure>
<p>Trong rà soát, chúng tôi thảo luận việc trọng tâm của tuyên bố năm 2020 vào ELB có thể đã làm phức tạp thông điệp về cách chúng tôi phản ứng với lạm phát cao. Chúng tôi kết luận rằng việc nhấn mạnh một tập hợp trạng thái kinh tế quá cụ thể có thể đã dẫn tới một số nhầm lẫn; vì vậy, chúng tôi thực hiện vài thay đổi quan trọng để phản ánh điều này.</p>
<p>Thứ nhất, chúng tôi bỏ ngôn ngữ mô tả ELB như một đặc trưng “định hình” của bối cảnh kinh tế. Thay vào đó, chúng tôi nêu rằng “chiến lược chính sách tiền tệ của Ủy ban được thiết kế để thúc đẩy việc làm tối đa và ổn định giá cả qua một dải rộng các trạng thái kinh tế.” Khó khăn khi vận hành gần ELB vẫn là một mối quan tâm tiềm tàng, nhưng không còn là trọng tâm chính. Tuyên bố sửa đổi nhắc lại rằng Ủy ban sẵn sàng sử dụng đầy đủ các công cụ để đạt mục tiêu về việc làm tối đa và ổn định giá cả, đặc biệt nếu lãi suất quỹ liên bang bị ràng buộc bởi ELB.</p>
<p>Thứ hai, chúng tôi quay lại khuôn khổ nhắm mục tiêu lạm phát linh hoạt và loại bỏ chiến lược “bù đắp”. Rốt cuộc, ý tưởng về một “vượt mục tiêu” có chủ ý và ở mức độ vừa phải đã tỏ ra không liên quan. Không có gì “có chủ ý” hay “vừa phải” về làn sóng lạm phát tới chỉ vài tháng sau khi chúng tôi công bố thay đổi năm 2020—như tôi đã thừa nhận công khai năm 2021.¹¹</p>
<p>Kỳ vọng lạm phát được neo chặt đóng vai trò then chốt giúp chúng tôi đưa lạm phát xuống mà không cần một cú tăng thất nghiệp mạnh. Kỳ vọng được neo chặt hỗ trợ lạm phát quay lại mục tiêu khi các cú sốc bất lợi đẩy lạm phát lên, và hạn chế rủi ro giảm phát khi kinh tế yếu.¹² Hơn nữa, chúng cho phép chính sách tiền tệ hỗ trợ việc làm tối đa trong suy thoái mà không đánh đổi ổn định giá cả. Tuyên bố sửa đổi nhấn mạnh cam kết của chúng tôi hành động quyết liệt để đảm bảo kỳ vọng lạm phát dài hạn vẫn được neo chặt—mang lại lợi ích cho cả hai vế của nhiệm vụ kép. Tài liệu cũng nêu rằng “ổn định giá cả là thiết yếu cho một nền kinh tế lành mạnh, ổn định và hỗ trợ phúc lợi của tất cả người Mỹ.” Chủ đề này vang lên rõ ràng tại các sự kiện Fed Listens.¹³ Năm năm qua nhắc nhở đau đớn về những khó khăn mà lạm phát cao gây ra, nhất là với những người ít khả năng chịu đựng chi phí tăng của các nhu yếu phẩm.</p>
<p>Thứ ba, tuyên bố 2020 nói rằng chúng tôi sẽ giảm thiểu “thiếu hụt” so với việc làm tối đa, thay vì “chệch khỏi” mức đó. Việc dùng “thiếu hụt” phản ánh nhận thức rằng đánh giá theo thời gian thực của chúng tôi về tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên—và do đó về “việc làm tối đa”—rất bất định.¹⁴ Những năm cuối của giai đoạn phục hồi sau GFC ghi nhận việc làm chạy trên mức bền vững theo ước tính phổ biến trong một thời gian dài, cùng lúc lạm phát lại dai dẳng dưới mục tiêu 2%. Khi không thấy áp lực lạm phát, có thể không cần thắt chặt chính sách chỉ dựa trên các ước tính bất định theo thời gian thực về tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên.¹⁵</p>
<p>Quan điểm đó vẫn giữ, nhưng cách dùng “thiếu hụt” không phải lúc nào cũng được hiểu đúng như dự định, gây thách thức trong truyền thông. Đặc biệt, cách dùng này không nhằm cam kết từ bỏ vĩnh viễn hành động đi trước hay bỏ qua mức độ thắt chặt của thị trường lao động. Vì vậy, chúng tôi bỏ chữ “thiếu hụt” khỏi tuyên bố. Thay vào đó, văn bản mới nói rõ rằng “Ủy ban thừa nhận rằng việc làm đôi khi có thể chạy trên các đánh giá thời gian thực về mức việc làm tối đa mà không nhất thiết tạo rủi ro cho ổn định giá cả.” Dĩ nhiên, hành động đi trước có thể sẽ phù hợp nếu sự thắt chặt của thị trường lao động hay các yếu tố khác gây rủi ro cho ổn định giá.</p>
<p>Tuyên bố sửa đổi cũng nêu rằng việc làm tối đa là “mức việc làm cao nhất có thể đạt được một cách bền vững trong bối cảnh ổn định giá cả.” Trọng tâm thúc đẩy một thị trường lao động mạnh mẽ nhấn mạnh nguyên tắc “đạt được việc làm tối đa một cách bền vững sẽ nuôi dưỡng cơ hội kinh tế rộng khắp và lợi ích cho tất cả người Mỹ.” Phản hồi nhận được tại Fed Listens củng cố giá trị của một thị trường lao động mạnh đối với hộ gia đình, người sử dụng lao động và cộng đồng.</p>
<p>Thứ tư, phù hợp với việc bỏ “thiếu hụt”, chúng tôi có các điều chỉnh để làm rõ cách tiếp cận trong những giai đoạn khi mục tiêu việc làm và lạm phát của chúng tôi không bổ trợ cho nhau. Trong các hoàn cảnh đó, chúng tôi sẽ theo đuổi một cách tiếp cận cân bằng trong việc thúc đẩy cả hai. Tuyên bố sửa đổi nay tương thích hơn với ngôn ngữ gốc năm 2012. Chúng tôi cân nhắc mức độ độ lệch khỏi mục tiêu và các khung thời gian có thể khác nhau để mỗi mục tiêu quay trở về mức phù hợp với nhiệm vụ kép. Những nguyên tắc này định hướng quyết định chính sách của chúng tôi hôm nay, như chúng đã làm trong giai đoạn 2022–2024, khi độ lệch khỏi mục tiêu lạm phát 2% là mối quan tâm lấn át.</p>
<p>Bên cạnh các thay đổi đó, có nhiều điểm liên tục với các tuyên bố trước. Tài liệu tiếp tục giải thích cách chúng tôi diễn giải nhiệm vụ Quốc hội giao và mô tả khuôn khổ chính sách mà chúng tôi tin là tốt nhất để thúc đẩy việc làm tối đa và ổn định giá cả. Chúng tôi tiếp tục tin rằng chính sách tiền tệ phải hướng tới tương lai và cân nhắc độ trễ trong tác động của nó lên nền kinh tế. Vì vậy, hành động chính sách phụ thuộc vào triển vọng kinh tế và cán cân rủi ro đối với triển vọng đó. Chúng tôi cũng tiếp tục cho rằng đặt một mục tiêu số cho việc làm là không khôn ngoan, vì mức việc làm tối đa không thể đo trực tiếp và thay đổi theo thời gian do những nguyên nhân không liên quan đến chính sách tiền tệ.</p>
<p>Chúng tôi cũng tiếp tục xem lạm phát 2% trong dài hạn là mức phù hợp nhất với các mục tiêu thuộc nhiệm vụ kép. Chúng tôi tin rằng cam kết với mục tiêu này là yếu tố then chốt giúp giữ “neo” kỳ vọng lạm phát dài hạn. Kinh nghiệm cho thấy mức 2% đủ thấp để lạm phát không trở thành mối lo trong các quyết định của hộ gia đình và doanh nghiệp, đồng thời vẫn cho ngân hàng trung ương một mức linh hoạt để hỗ trợ trong suy thoái.</p>
<p>Cuối cùng, tuyên bố đồng thuận sửa đổi vẫn giữ cam kết tiến hành một rà soát công khai khoảng mỗi 5 năm. Không có gì “thần kỳ” ở nhịp 5 năm; tần suất đó cho phép nhà hoạch định chính sách xem xét lại các đặc trưng cấu trúc của nền kinh tế và tương tác với công chúng, giới thực hành và học thuật về hiệu quả của khuôn khổ. Tần suất này cũng phù hợp với một số đồng cấp toàn cầu.</p>
<p><strong>Kết luận</strong></p>
<p>Trước khi kết thúc, tôi muốn cảm ơn Chủ tịch Schmid và toàn thể đội ngũ đã làm việc hết mình để tổ chức sự kiện xuất sắc này mỗi năm. Tính cả vài lần xuất hiện trực tuyến trong đại dịch, đây là lần thứ tám tôi có vinh dự phát biểu từ bục này. Mỗi năm, hội thảo này cho các nhà lãnh đạo của Cục Dự trữ Liên bang cơ hội lắng nghe ý tưởng từ những nhà tư tưởng kinh tế hàng đầu và tập trung vào các thách thức chúng ta đối mặt. Ngân hàng Dự trữ Liên bang Kansas City đã rất sáng suốt khi mời Chủ tịch Volcker tới công viên quốc gia này hơn 40 năm trước, và tôi tự hào được tiếp nối truyền thống đó.</p>
<p class="has-text-align-right"><strong>(Jerome H. Powell, Chủ tịch FED)</strong></p>
<hr class="wp-block-separator has-alpha-channel-opacity"/>
<p>Chú thích</p>
<ol start="1" class="wp-block-list"> <li>Ví dụ, sau báo cáo việc làm tháng 7/2024, bình quân 3 tháng của tỷ lệ thất nghiệp đã tăng hơn 0,5 điểm phần trăm so với mức thấp nhất trong 12 tháng trước đó. Xem Claudia Sahm (2019), “Direct Stimulus Payments to Individuals,” trong Heather Boushey, Ryan Nunn và Jay Shambaugh (biên tập), <em>Recession Ready: Fiscal Policies to Stabilize the American Economy</em> (PDF) (Washington: Hamilton Project và Washington Center for Equitable Growth, tháng 5), tr. 67–92.</li>
<li>Đầu tháng 9, Cục Thống kê Lao động sẽ công bố ước tính sơ bộ về các điều chỉnh mốc đối với mức việc làm phi nông nghiệp tính tới tháng 3/2025, dựa trên dữ liệu từ Khảo sát Theo quý về Việc làm và Tiền lương. Dữ liệu hiện có cho thấy mức việc làm phi nông nghiệp sẽ được điều chỉnh giảm đáng kể. Điều chỉnh mốc cuối cùng sẽ được đưa vào dữ liệu việc làm hàng tháng vào tháng 2/2026.</li>
<li>Tổng mức điều chỉnh giảm 258.000 việc làm cho giai đoạn tháng 5–6 được phân bổ trên các ngành khu vực tư nhân cũng như việc làm tại chính quyền bang và địa phương—đặc biệt là giáo dục—và phản ánh cả thông tin bổ sung từ các cơ sở được khảo sát và việc ước tính lại các yếu tố mùa vụ.</li>
<li>Sử dụng chỉ số giá tiêu dùng và các thông tin khác, ước tính đóng góp của dịch vụ nhà ở vào lạm phát PCE cơ bản 12 tháng trong tháng 7 là 0,7 điểm phần trăm, trong khi dịch vụ phi nhà ở đóng góp 2,0 điểm phần trăm. Đóng góp từ mỗi nhóm vẫn hơi cao hơn mức trung bình giai đoạn 2002–2007, khi PCE cơ bản bình quân khoảng 2%. Ngược lại, đóng góp của hàng hóa cốt lõi vào PCE cơ bản 12 tháng trong tháng 7 khoảng 0,25 điểm phần trăm, so với mức trung bình 2002–2007 là −0,25 điểm phần trăm.</li>
<li>Xem thêm <a href="https://www.federalreserve.gov/monetarypolicy/review-of-monetary-policy-strategy-tools-and-communications-2025.htm.">thông tin </a>trên trang của Hội đồng Thống đốc.</li>
<li>Xem Jerome H. Powell (2019), “Challenges for Monetary Policy,” bài phát biểu tại hội thảo “Challenges for Monetary Policy” do Ngân hàng Dự trữ Liên bang Kansas City tổ chức, Jackson Hole, Wyoming, ngày 23/8.</li>
<li>Xem François Gourio, Benjamin K. Johannsen và David López-Salido (2025), “The Origins, Structure, and Results of the Federal Reserve’s 2019–20 Review of Its Monetary Policy Framework,” <em>Finance and Economics Discussion Series</em> 2025-065 (Washington: Hội đồng Thống đốc Hệ thống Dự trữ Liên bang, tháng 8).</li>
<li>Bài viết năm 2020 của Caldara và cộng sự thảo luận các yếu tố cấu trúc đằng sau sự tiến hóa chậm của thay đổi ở tỷ lệ thất nghiệp tự nhiên, tăng trưởng năng suất xu hướng, lãi suất tự nhiên và độ dốc của đường Phillips; xem Dario Caldara, Etienne Gagnon, Enrique Martínez-García và Christopher J. Neely (2020), “Monetary Policy and Economic Performance since the Financial Crisis,” <em>Finance and Economics Discussion Series</em> 2020-065 (Washington: Hội đồng Thống đốc Hệ thống Dự trữ Liên bang, tháng 8).</li>
<li>Xem David Reifschneider và John C. Williams (2000), “Three Lessons for Monetary Policy in a Low-Inflation Era,” <em>Journal of Money, Credit and Banking</em>, tập 32 (tháng 11), tr. 936–66; Michael T. Kiley và John M. Roberts (2017), “Monetary Policy in a Low Interest Rate World (PDF),” <em>Brookings Papers on Economic Activity</em>, Mùa xuân, tr. 317–72; James Hebden, Edward P. Herbst, Jenny Tang, Giorgio Topa và Fabian Winkler (2020), “How Robust Are Makeup Strategies to Key Alternative Assumptions?” <em>Finance and Economics Discussion Series</em> 2020-069 (Washington: Hội đồng Thống đốc, tháng 8); và Ben S. Bernanke, Michael T. Kiley, John M. Roberts (2019), “Monetary Policy Strategies for a Low-Rate Environment,” <em>AEA Papers and Proceedings</em>, tập 109 (tháng 5), tr. 421–26. Về nhắm mục tiêu lạm phát bình quân, xem Thomas M. Mertens và John C. Williams (2019), “Monetary Policy Frameworks and the Effective Lower Bound on Interest Rates,” <em>AEA Papers and Proceedings</em>, tập 109 (tháng 5), tr. 427–32.</li>
<li>Xem Ekaterina Peneva, Daniel Villar và Jeremy Rudd (2025), “Retrospective on the Board Staff’s Inflation Forecast Errors since 2019,” <em>Finance and Economics Discussion Series</em> 2025-069 (Washington: Hội đồng Thống đốc, tháng 8).</li>
<li>Xem Ina Hajdini, Adam Shapiro, A. Lee Smith và Daniel Villar (2025), “Inflation since the Pandemic: Lessons and Challenges,” <em>Finance and Economics Discussion Series</em> 2025-070 (Washington: Hội đồng Thống đốc, tháng 8).<br>Xem thêm, ví dụ, Jerome H. Powell (2021), “Transcript of Chair Powell’s Press Conference (PDF),” ngày 15/12.</li>
<li>Xem Hess Chung, Callum Jones, Antoine Lepetit và Fernando M. Martin (2025), “Implications of Inflation Dynamics for Monetary Policy Strategy,” <em>Finance and Economics Discussion Series</em> 2025-072 (Washington: Hội đồng Thống đốc, tháng 8).</li>
<li>Xem báo cáo <em>Fed Listens: Perspectives from the Public</em>, tổng hợp 10 sự kiện Fed Listens do Hội đồng và các Ngân hàng Dự trữ tổ chức trong năm 2025.</li>
<li>Xem Christopher Foote, Shigeru Fujita, Amanda Michaud và Joshua Montes (2025), “Assessing Maximum Employment,” <em>Finance and Economics Discussion Series</em> 2025-067 (Washington: Hội đồng Thống đốc, tháng 8).</li>
<li>Xem Brent Bundick, Isabel Cairó và Nicolas Petrosky-Nadeau (2025), “Labor Market Dynamics, Monetary Policy Tradeoffs, and a Shortfalls Approach to Pursuing Maximum Employment,” <em>Finance and Economics Discussion Series</em> 2025-068 (Washington: Hội đồng Thống đốc, tháng 8).</li> </ol>
<p></p>
